Tin Văn hóa xã hội

HÙNG VƯƠNG MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

Phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên ra đời trên cơ sở diện tích tự nhiên, dân số của hai đơn vị hành chính cấp thôn đó là làng Nhuế Khúc (Khúc lớn, Khúc con) của xã Phúc Thắng (nay là phường Phúc Thắng) và các khu A1, A2, A3, Thanh Tước thuộc thị trấn Phúc Yên.

Ngược dòng lịch sử, từ cuối thế kỷ 19 Nhuế Khúc thuộc tổng Bạch Trữ huyện Yên Lãng tỉnh Sơn Tây. Đến đầu thế kỷ 20 Nhuế Khúc thuộc tổng Thanh Lâm tỉnh Phúc Yên, đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) thuộc xã Xuân Phương huyện Kim Anh. Đến ngày 17 – 6 – 1949 khi UBKCHC tỉnh Phúc Yên  quyết định hợp nhất xã Đức Thắng với khu phố Phúc Yên thành xã Phúc Thắng thì Nhuế Khúc thuộc xã Phúc Thắng.

Từ tháng 11 năm 1954 xã Phúc Thắng được tách thành hai đơn vị: thị xã Phúc Yên (tái lập) và xã Phúc Thắng. Làng Nhuế Khúc Lớn, Nhuế Khúc con, tiền thân của phường Hùng Vương thuộc xã Phúc Thắng ổn định cho đến hết tháng 12 năm 2003.

Còn các khu A1, A2, A3 trước năm 2004 thuộc khu A của thị xã Phúc Yên, sau đó là thị trấn Phúc Yên theo quyết định số 97/cp ngày 26 tháng 6 năm 1976 của Hội đồng chính phủ.

Khu A có thời gian ổn định đến 40 năm (Từ năm 1955 – 1995). Từ năm 1996 khu A được  chia thành 5 khu lấy số thứ tự tên gọi từ 1 đến 5 (Khu A1, Khu A2, Khu A3, Khu A4, Khu A5), còn hai khu Thanh Tước và Gốc Găng là tên gọi hành chính mới thành lập trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của giặc Mỹ (1965 – 1968)

Ngược dòng lịch sử trước năm 1955 khu A thuộc khu phố Đệ nhị của tỉnh lỵ Phúc Yên. Mà tỉnh lỵ Phúc Yên kể từ khi trụ sở hành chính của tỉnh Phù Lỗ sau là tỉnh Phúc Yên chuyển về Đạm Xuyên theo theo nghị định 599 (ngày 10 tháng 2 năm 1903), thực dân Pháp đã chia nội thị thành các hộ Đệ nhất, Đệ nhị, Đệ tam. Khu A từ thời kỳ này (từ 1903 – 1954) thuộc hộ Đệ nhị (khu phố Đệ nhị), danh giới hành chính của khu phố đệ nhị gồm từ khoảng nhà thờ Tin lành đến bến xe ô tô (kể cả xóm Bái, xóm Chùa Thông). Dân ở đây nghèo, nhà lụp xụp, chủ yếu làm nghề hàng xay, hàng xáo, làm thuê, bốc vác, buôn bán. Còn hộ Đệ nhất, hộ Đệ tam, sau 1954 được chia thành 3 khu phố B, C, D nay thuộc phường Trưng Trắc và 1 phần phường Trưng Nhị.

Về dân cư Phúc Yên, nếu như ở Tháp Miếu, ở Nhuế Khúc dân cư thuần nhất và ổn định trong một không gian yên tĩnh thì trái lại, dân cư ở các khu phố lại là dân tứ xứ(1). Sự biến động của cư dân diễn ra liên tục trong suốt lịch sử. Những cư dân định cư trong khuôn khổ của 3 hộ gốc Đệ nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, sau là 4 khu A, B, C, D, phần lớn là những người dân lao động làm thuê trong đồn điền của Cu Rê. Sau đó là những viên chức quan lại, binh lính, thầu khóa và gia đình họ. Ngoài ra còn có những người tư thương, những người làm thuê, làm công và đi ở cho các gia đình viên chức, những lái xe, đầu bếp, vú em, thầy giáo, thư ký, các thợ thủ công.

Khu A là nơi mà dân lao động tập trung nhiều nhất trong số 4 khu phố. Trong đó nguồn dân cư đông đảo nhất là từ Hưng Yên, Hải Dương thuộc các huyện: Khoái Châu, Kim Động, Gia Lộc, Mỹ Hào, từ Sơn Tây, Hà nam thuộc các huyện Duy Tiên, Phú Xuyên, Nghĩa Hưng, Kim Bản, Vụ Bản, Bình Lộc, Ý Yên, Thường tín, từ ngoại thị Phúc Yên, ở các vùng Bạch Trữ, Tiền Châu, Xuân Phương, Tráng Việt, Liên Mạc, từ vùng ngoại thành Hà Nội, ở các huyện Đông Anh, Từ Liêm, Đan Phượng, Gia Lâm, Đa Phúc.

Đất Phúc Yên và cư dân Phúc Yên nói chung, phường Hùng Vương nói riêng dước thời thực dân phong kiến đã tạo ra sự đối lập giữa làng xóm cổ truyền và phố xá, giữa dân làng và “dân làng phố”, giữa người lao động và tầng lớp thống trị bóc lột, giữa lương và giáo. Song dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, và cách mạng xã hội chủ nghĩa đất và con người Hùng vương – Phúc Yên đã có những thay đổi lớn lao. Đối với những người lao động, vùng đất mà họ đến để kiếm sống, với bao nỗi vất vả nhọc nhằn, với quan niệm “đất khách quê người” giờ đây, cái lớn hơn cả mà Đảng đã  đem lại đó là tình cảm gắn kết máu thịt với Phúc Yên, coi Hùng Vương – Phúc Yên là quê quán, là đất quê hương, để đồng lòng chung sức thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới vững bước trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa, làm giàu quê hương Hùng Vương thân yêu.

 
 
 

 

(1)  Theo chú thích của các sử gia thời Nguyễn trong bộ “Việt sử Thông giám cương mục” thì người ở Tứ trấn: Kinh Bắc, Sơn Nam, Sơn Tây và Hải Dương cũ gọi là Tứ Chiếng. Dẫn theo chú thích của Kến văn Tiểu lục (do Lê Quý Đôn soạn), từ này còn có nghĩa rộng là dân ở nhiều nơi khắc nhau.

Đỗ Văn Kiểm – Phường Hùng Vương

Ngày đăng: 02/01/2019
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*