Tin Văn hóa xã hội

CON ĐƯỜNG CHUYỂN NGÂN

 Trong chiến tranh chúng ta lập ra nhiều con đường huyền thoại, đường kéo pháo vào Điện Biên Phủ, đường Hồ Chí Minh trên biển, đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua dãy núi Trường Sơn… Còn có con đường huyền thoại nữa mà vì nhiều lý do khiến sử sách ít nhắc đến đó là: “Con đường chuyển ngân”.

Tờ Bạc Việt Nam bí mật vào vùng địch hậu ngay sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, chính phủ lâm thời dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã chủ trương in và phát hành đồng tiền riêng, để khẳng định chủ quyền kinh tế, tài chính, tiền tệ của quốc gia độc lập. Ngày 15/11/1945 cơ quan ấn loát thuộc bộ tài chính, được chính phủ cho phép thành lập với nhiệm vụ sản xuất tờ Bạc Việt Nam để đưa ra lưu hành, phục vụ cho nhu cầu của chính phủ cách mạng và các nhu cầu sản xuất lưu thông hàng hóa trong công cuộc kiến quốc.

Ngày 30/1/1946, chính phủ ký sắc lệnh số 18/b cho phát hành tờ Bạc Việt Nam tại các địa phương từ vỹ tuyến 16 trở vào. Ngày 3/2/1946 tức ngày  mồng 2 Tết năm Bính Tuất, ở hầu hết các tỉnh miền Nam Trung bộ, các tờ Bạc Việt Nam với mệnh giá 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 100 đồng đã được chính thức phát hành trước sự chào đón của đông đảo nhân dân, được tập hợp trong các cuộc mít tinh rầm rộ. Tuy nhien, con đường đi của tờ Bạc Việt Nam lúc ấy rất khó khăn, nhất là trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Ông Vũ Kim Ngân, nguyên cán bộ Bộ Tài chính, ngân hàng khu tả ngạn nhớ lại “Chuyển tiền từ Việt Bắc về các tỉnh, các tỉnh lại phân phối cho các huyện, hoàn toàn bí mật. Trong quá trình vận chuyển, các giấy chỉ dẫn có những kí hiệu. Có lần chúng tôi gửi tiền, hai gánh tiền ở hầm đào trong nhà dân thì địch đến, sợ chúng phát hiện ra hầm chứa tiền, chủ nhà kiền kéo nhà đổ và châm lửa đốt nhà, tất cả tài sản của gia đình cháy hết nhưng tiền của chính phủ vẫn an toàn…”. “Chúng tôi dùng tiền của chính phủ mua muối, thuốc chữa bệnh, các nhu yếu phẩm trong vùng địch hậu rồi gửi lên chiến khu, có khi còn mua cả vàng nữa”.

Quỹ đặc biệt và nhiệm vụ đặc biệt.

Để chi viện tài chính cho miền Nam, năm 1954 trung ương Đảng cho thành lập Quỹ đặc biệt (Bí số B29) ở miền Bắc để tiếp nhận viện trợ của các nước tiến bộ, để chuyển vào miền Nam. Đồng thời thành lập ban tài chính đặc biết (Bí số N.2683) là đơn vị trực thuộc trung ương cục miền Nam.

Ông Lê Hoàng Nguyên phó tổng giám đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam nhớ lại: “Ngân hàng ngoại thương Việt Nam lúc ấy được giao nhiệm vụ lịch sử là quản lý quỹ ngoại tệ đặc biệt do các nguồn thu từ các nhà hảo tâm để chuyên trách phục vụ chiến trường. Để thực hiện sứ mệnh này ngân hàng ngoại thương Việt Nam là vỏ bọc vừa công khai vừa bí mật. Ngân hàng ngoại thương Trung Quốc có hệ thống đại diện ở Hồng Kông, Bắc Kinh, Phe Ri, PnôngPênh, một bộ máy ngân hàng bí mật phối hợp với nhau bảo đảm cung cấp ngoại tệ cho chiến trường với nguyên tắc tuyệt mật, an toàn và cực nhanh.

Cán bộ của ban N.2683 đại đa số có nghiệp vụ chuyên môn giỏi, được đào tạo cơ bản. Nhiệm vụ của họ đặc biệt bí mật, không ai được phép biết ngoài những người trực tiếp chủ huy. Họ giỏi tiếng anh để có thể đóng vai những người Việt Kiều giàu có; làm chuyên môn nhưng lại hoạt động như những nhà tình báo, có người là nhận viên làm việc trực tiếp tại các ngân hàng của chính quyền Sài Gòn. Bằng chuyên môn của mình, họ đã biết cách tiến hành các nhiệm vụ chuyển tiền quốc tế có lợi cho cách mạng. Công việc thầm lặng cả cán bộ ngân hàng làm nhiệm vụ đặc biệt phải hơn 34 năm ngày giải phóng mới được cả nước biết đến: Khi chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho N.2683 và B29 năm 2009”.

Ông Lê Hoàng kể rằng, trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, B29 đã phối hợp với quốc phòng, dùng ô tô vận tải của ngân hàng ngoại thương nhận đô la, đóng gói để trong hòm kẽm chống cháy, cho vào thùng gỗ ngụy trang chở từ ngân hàng về bộ quốc phòng, rồi tiếp tục vận chuyển dọc Trường Sơn vào Nam. Hành trình có lúc hàng tháng trời mới tới được miền Nam, có những chuyến bị trúng bom từ máy bay địch, đô la không bị cháy hẳn nhưng nung rực trong hòm kẽm. Rất nhiều chiến sĩ lái xe và cán bộ ngân hàng hy sinh.

Trong khoảng thờ igian từ năm 1967 đến năm 1970 do hãng hàng không A11- France của Pháp có tổ chức bay chuyến Hà Nội- Quảng Châu (Trung Quốc)- Phnom Pênh (Cam-pu-chia) cán bộ của B29 cho đô la vào cặp ngoại giao đóng vai cán bộ ngoại giao mang đến Phnom Pênh. Từ Phnom Pênh lấy xe ô tô biển đỏ ngoại giao của sứ quán ta chạy hướng đến chiến khu Tây Ninh, giao cho trung ương cục miền Nam. Như vậy, việc vận chuyển tiền từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam, từ 30 ngày đêm rút xuống còn 6 tiếng đồng hồ. Nhưng cách chuyển tiền này cũng chỉ duy trì được 4 năm vì non non đảo chính Cam-pu-chia đường bay lại tắc. Sau khu bị cúp đường bay, lãnh đạo B29 có sáng kiến thay đổi phương thức chuyển tiền bằng giải pháp AM (viết tắt của đồng đô la; M là viết tắt của tiền mặt). Sau đó là phương pháp FM (F viết tắt của phương pháp mới). Bản chất của hai phương pháp trên là chúng ta chuyển tiền vào tài khoản các nhà tư sản yêu nước ở Sài Gòn, sau đó nhờ họ rút tiền giao cho các cơ sở cách mạng của ta.

Ông Lê Châu- nguyên phó thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam, nguyên đại diện thường trú của B29 tại Hồng Kông (Trung Quốc) cho biết: “Từ năm 1956 đến năm 1975, hàng trăm cán bộ ngân hàng nhà nước và bộ tài chính đã đi vào miền Nam trực tiếp làm nhiệm vụ đặc biệt trên con đường tiền tệ, chi viện cho chiến trường miền Nam”.

                                                                                                Đinh Xuân Hán.

Ngày đăng: 04/04/2019
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*